ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
16TM1-5 Khu Đô Thị The Manor Central Park, đường Nguyễn Xiển, phường Định Công, thành phố Hà Nội - Hotline: 0936 018 199 - Email: minhdunglawfirm@gmail.com
Trong bài viết dưới đây, là thông tin tổng hợp các chính sách mới lĩnh vực sở hữu trí tuệ có hiệu lực tháng 4/2026 theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 8a Luật Sở hữu trí tuệ 2005, số 50/2005/QH11 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, số 131/2025/QH15 quy định việc quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ như sau:
- Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ trong trường hợp quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán.
- Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện các hoạt động giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật liên quan theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ, quản lý, sử dụng tài sản cộng và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Nhà nước khuyến khích khai thác quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Như vậy, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã lần đầu tiên quy định trực tiếp về quản lý và khai thác quyền SHTT như một loại tài sản. Cụ thể:
- Chủ sở hữu có trách nhiệm quản trị nội bộ quyền SHTT;
- Quyền SHTT được sử dụng để góp vốn, thế chấp, đầu tư, giao dịch thương mại;
- Nhà nước khuyến khích khai thác quyền SHTT để huy động vốn và phát triển sản xuất, kinh doanh.
Theo Điều 11b Luật Sở hữu trí tuệ 2005, số 50/2005/QH11 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 6 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, số 131/2025/QH15 quy định về việc chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ như sau:
- Nhà nước thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ thông qua việc ưu tiên phát triển đồng bộ hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, các nền tảng số phục vụ nghiệp vụ sở hữu trí tuệ, bao gồm cả cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm an toàn và thân thiện với người sử dụng.
- Nhà nước đầu tư để tự động hóa quy trình nghiệp vụ ứng dụng công nghệ, trong đó có dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả, tính minh bạch của hoạt động sở hữu trí tuệ.
Theo đó, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc hiện đại hóa hệ thống SHTT quốc gia trong giai đoạn 2026-2035.
Trước đây, theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005, số 50/2005/QH11 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 5 Điều 2 Luật sửa đổi Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ 2019, số 42/2019/QH14 quy định về cách thức nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp như sau:
- Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.
- Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.
- Đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp được nộp dưới hình thức văn bản ở dạng giấy cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn trực tuyến.
Theo Điều 89 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, số 50/2005/QH11 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 23 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, số 131/2025/QH15 quy định cách thức nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp như sau:
- Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam có thể tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam để nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
- Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.
- Đơn trong các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp phải được nộp dưới hình thức văn bản ở dạng giấy hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn điện tử.
Như vậy, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh: từ “đăng ký xác lập quyền” sang “các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp”, thống nhất hình thức nộp đơn giấy và điện tử cho mọi thủ tục.
![]()
Trước đây, theo Điều 100 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, số 50/2005/QH11 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 32 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, số 07/2022/QH15 quy định yêu cầu chung đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp như sau:
- Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bao gồm các tài liệu sau đây:
Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định;
Tài liệu, mẫu vật, thông tin thể hiện đối tượng sở hữu công nghiệp đăng ký bảo hộ quy định tại các điều từ Điều 102 đến Điều 106 của Luật Sở hữu trí tuệ;
Giấy uỷ quyền, nếu đơn nộp thông qua đại diện;
Tài liệu chứng minh quyền đăng ký, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác;
Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên, nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên;
Chứng từ nộp phí, lệ phí.
- Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp và giấy tờ giao dịch giữa người nộp đơn và cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp phải được làm bằng tiếng Việt, trừ các tài liệu sau đây có thể được làm bằng ngôn ngữ khác nhưng phải được dịch ra tiếng Việt khi cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp yêu cầu:
Giấy uỷ quyền;
Tài liệu chứng minh quyền đăng ký;
Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên;
Các tài liệu khác để bổ trợ cho đơn.
- Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bao gồm:
Bản sao đơn hoặc các đơn đầu tiên có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên;
Giấy chuyển nhượng quyền ưu tiên nếu quyền đó được thụ hưởng từ người khác.
Theo Điều 100 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, số 50/2005/QH11 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 31 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, số 131/2025/QH15 quy định yêu cầu chung đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp như sau:
- Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bao gồm các tài liệu về đối tượng yêu cầu bảo hộ và các tài liệu khác liên quan.
- Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp và giấy tờ giao dịch liên quan đến đơn giữa người nộp đơn và cơ quan có thẩm quyền xử lý đơn phải được làm bằng tiếng Việt, trừ một số tài liệu có thể được làm bằng ngôn ngữ khác nhưng phải được dịch ra tiếng Việt khi có yêu cầu.
- Mỗi đơn đăng ký sở hữu công nghiệp chỉ được yêu cầu cấp một văn bằng bảo hộ cho một đối tượng sở hữu công nghiệp duy nhất, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này.
- Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp một Bằng độc quyền sáng chế hoặc một Bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho một nhóm sáng chế có mối liên hệ chặt chẽ về kỹ thuật nhằm thực hiện một ý đồ sáng tạo chung duy nhất.
- Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp một Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho nhiều kiểu dáng công nghiệp trong các trường hợp sau đây:
Các kiểu dáng công nghiệp của một bộ sản phẩm gồm nhiều sản phẩm thể hiện ý tưởng sáng tạo chung duy nhất, được sử dụng cùng nhau hoặc để thực hiện chung một mục đích;
Một kiểu dáng công nghiệp kèm theo một hoặc nhiều phương án là biến thể của kiểu dáng công nghiệp đó theo ý tưởng sáng tạo chung duy nhất, không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp đó.
- Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho một nhãn hiệu dùng cho một hoặc nhiều hàng hóa, dịch vụ khác nhau.
- Người nộp đơn chịu trách nhiệm đối với thông tin khai trong đơn. Trường hợp có căn cứ để xác định thông tin trong đơn là không chính xác, không trung thực, cơ quan nhà nước đã cấp văn bằng bảo hộ có thẩm quyền thu hồi quyết định cấp văn bằng bảo hộ đó.
Như vậy, quy định mới tại Điều 100 đã chuyển từ cách liệt kê chi tiết sang quy định mang tính nguyên tắc về thành phần hồ sơ đăng ký sở hữu công nghiệp; đồng thời bổ sung nguyên tắc mỗi đơn chỉ cho một đối tượng bảo hộ và tăng trách nhiệm của người nộp đơn đối với tính chính xác của thông tin (có thể bị thu hồi văn bằng nếu khai sai).
Việc không còn liệt kê cụ thể các tài liệu không đồng nghĩa với việc bãi bỏ các tài liệu này, mà thể hiện xu hướng linh hoạt hóa và chuẩn hóa khung pháp lý.
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, số 131/2025/QH15 cũng sửa đổi Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, số 50/2005/QH11, đổi tên thành quy định về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số.
a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:
“Điều 198b. Trách nhiệm pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện kỹ thuật, nền tảng số để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên không gian mạng; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên không gian mạng.”;
c) Bổ sung khoản 5a vào sau khoản 5 như sau:
“5a. Chủ quản nền tảng số có trách nhiệm triển khai các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan.”.
Theo đó:
- Doanh nghiệp trung gian, chủ quản nền tảng số phải triển khai các biện pháp bảo vệ quyền SHTT trên không gian mạng; Phải phối hợp với chủ thể quyền và cơ quan nhà nước khi phát hiện vi phạm.
Ngoài ra Luật còn sửa đổi sâu rộng thủ tục đăng ký, thẩm định và cấp văn bằng bảo hộ. Cụ thể, sửa đổi hàng loạt điều từ Điều 89 đến Điều 119, với các điểm nổi bật như:
- Mở rộng nộp đơn điện tử, công bố sớm đơn đăng ký nhãn hiệu;
- Rút ngắn thời gian thẩm định, bổ sung cơ chế thẩm định nhanh;
- Làm rõ quyền phản đối của bên thứ ba;
- Tăng trách nhiệm của người nộp đơn về tính trung thực của thông tin